This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Lộ tuyến cổ tử cung có gây ung thư?

Lộ tuyến là một tổn thương lành tính ở cổ tử cung, hay gặp ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, do các tế bào tuyến trong ống cổ tử cung phát triển lan ra phía ngoài.

lo-tuyen-co-tu-cung-co-gay-ung-thu

hinh-anh-co-tu-cung-bi-viem

Khi có biểu hiện ra khí hư nhiều hoặc nghi ngờ lộ tuyến cần đến cơ sở y tế để được điều trị.

Nguyên nhân gây ra viêm lộ tuyến cổ tử cung

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng viêm lộ tuyến tử cung trong đó hay gặp do các nguyên nhân như: Những người đã sinh đẻ là đối tượng dễ mắc phải, do cổ tử cung mở rộng sau quá trình vượt cạn. Những người có tổn thương sau một số thủ thuật nạo hút thai cũng có thể khiến tế bào bên trong mọc lan ra ngoài gây lộ tuyến cổ tử cung. Những người chưa sinh đẻ vẫn có khả năng lộ tuyến cổ tử cung do các biến động về nội tiết sinh dục nữ hoặc đôi khi không có lý do. Ngoài ra, ở một số phụ nữ, thay đổi PH môi trường âm đạo, quan hệ tình dục mạnh bạo... cũng là một nguyên nhân gây lộ tuyến.

Khi mắc biểu hiện thường thấy là ra nhiều khí hư, nếu bị nhiễm khuẩn thì khí hư sẽ có mủ và hôi. Lộ tuyến có thể làm giảm khả năng thụ thai ở người có bệnh, nhất là khi kèm theo viêm. Vì thế, phụ nữ hiếm muộn nếu bị lộ tuyến thì việc đầu tiên cần làm là điều trị dứt điểm.

Lộ tuyến cổ tử cung - triệu chứng gợi ý để phát hiện ung thư cổ tử cung

Một số người bị lộ tuyến lâu ngày có thể xuất hiện tổn thương nghi ngờ, cần soi cổ tử cung và xét nghiệm phiến đồ âm đạo để phát hiện tế bào bất thường. Nếu có hình ảnh bất thường soi cổ tử cung cũng là một triệu chứng gợi ý để phát hiện ung thư cổ tử cung. Tuy vậy, có tổn thương nghi ngờ chưa chắc đã là ung thư.

Nếu chỉ lộ tuyến hoặc đã điều trị hết viêm thì có thể diệt liên bào tuyến bằng phương pháp đốt điện, đốt nhiệt hoặc áp lạnh nhưng không áp dụng hết cho tất cả các trường hợp lộ tuyến. Nhiều người thường hay sử dụng thuốc hoặc thảo dược tại nhà mà không hỏi ý kiến bác sĩ. Trong khi đó, việc đặt thuốc không đúng càng làm rối loạn môi trường âm đạo, có thể gây ra bệnh do mất cân bằng vi khuẩn có lợi, tổn thương các mô bên trong.Vì vậy, viêm lộ tuyến khi nào cần phải điều trị, việc điều trị như thế nào, chỉ định đốt hay đặt thuốc phải tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Đặc biệt trong thủ thuật đốt cần phải lưu ý tuân thủ việc tái khám, kiêng quan hệ tình dục theo sự hướng dẫn của bác sĩ cho từng trường hợp.

Sau khi điều trị, cần rửa vệ sinh bên ngoài, không ngâm, không thụt rửa bên trong âm đạo. Cần thực hiện tái khám theo đúng chỉ định của bác sĩ trực tiếp điều trị. Kiêng quan hệ tình dục trong thời gian điều trị cho đến khi lành hẳn. Thực hiện chế độ ăn uống đủ chất dinh dưỡng, không kiêng khem. Để tránh tái phát, cần vệ sinh phụ khoa đúng cách, chú ý giữ vệ sinh vùng kín vào những ngày có kinh nguyệt và sau khi quan hệ tình dục.

Thạc sĩ, Bác sĩ Dung Hạnh

Giải mã 6 thủ phạm phổ biến gây sảy thai

Bất thường nhiễm sắc thể

Theo Bryan Cowan, trưởng khoa sản Trung tâm Y tế Đại học Mississippi, Mỹ, các nhiễm sắc thể không hợp cách chiếm ít nhất 60% số ca sảy thai. Nhiễm sắc thể là những cấu trúc nhỏ trong các tế bào mang gen của con người. Mỗi chúng ta có 23 cặp, một cặp từ mẹ và một từ cha. Đôi khi, trứng và tinh trùng gặp nhau, một hoặc hai bị lỗi thì sau đó các nhiễm sắc thể không thể xếp đúng trật tự được. Trong trường hợp này thường dẫn đến phôi bất thường về nhiễm sắc thể và sự mang thai sau đó gặp khó khăn và dẫn đến sảy thai. Những cặp vợ chồng đã qua hai lần sảy thai liên tục nên tìm hiểu, kiểm tra y tế để phát hiện nguyên nhân nói trên giúp phòng ngừa và xử lý sớm.

Mẹ bầu cần làm gì:

Nếu một lần sảy thai, hãy kiên nhẫn. Tỉ lệ mang thai và sinh em bé khỏe mạnh vẫn thành công. Hoặc tiếp tục sảy thai lần nữa, hãy cân nhắc bảo quản mô, có thể lưu lại trong dung dịch nước muối vô trùng và mang đi xét nghiệm nhiễm sắc thể. Nếu là nhiễm sắc thể bình thường, có thể tìm kiếm các nguyên nhân khác và một khi bieestrox nguyên nhâ, có thể điều trị thành công.

Bất thường ở tử cung

Nếu có tử cung hình dạng bất thường hoặc phân chia, chuyên môn gọi là vách ngăn tử cung thì nguy cơ sẩy thai cao do phôi không thể cấy hoặc ghép được vào tử cung, nên không thể phát triển và tồn tại trong tử cung được. Theo báo cáo, các dị tật ở tử cung chiếm khoảng 10% số ca sảy thai. Cổ tử cung suy yếu hoặc không đủ năng lực cũng là lý do dẫn đến sảy thai, bởi vào cuối tháng thứ 3 của thai kỳ, bào thai đã phát triển đủ lớn để cổ tử cung to ra. Nếu suy yếu, nó không thể giữ được thai nhi và phát sinh sảy thai.

Giải mã 6 thủ phạm phổ biến gây sảy thai

Giải pháp:

Bác sĩ có thể không phát hiện ra vấn đề này cho đến khi mẹ bầu sảy thai liên tục, hoặc đến khi mang thai diễn ra. Tin tốt lành, tử cung bất thường hoặc phân chia có thể được điều chỉnh bằng phẫu thuật. Nếu cổ tử cung không đủ sức, bác sĩ có thể tăng cường bằng cách khâu hẹp lại thông qua thủ tục được gọi là buộc vòng (cerclage). Mẹ bầu nên nghỉ ngơi trên giường hoặc nằm viện một thời gian theo khuyến cáo của bác sĩ để giữ thai.

Rối loạn miễn dịch

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, rối loạn miễn dịch cũng là một trong những nguyên nhân tiềm ẩn phát sinh xảy thai. Ví dụ khi cơ thể người phụ nữ xem tinh trùng đàn ông như một vật thể ngoại lai, nhưng phần lớn mang thai vẫn xảy ra. Hầu hết thời gian mang thai, trứng thụ tinh thường phát ra thông điệp gửi đến người mẹ rằng “không coi tôi như một mầm bệnh, việc mang thai vẫn diễn ra bình thường và không có sự cố xảy ra”. Trong một số trường hợp, phôi thai không được chấp nhận bởi cơ thể người phụ nữ. Đặc biệt là các kháng thể kháng phospholipid, tức các kháng thể tấn công mô của chính cowtheer người phụ nữ, trong đó có cả phôi thai. Đây là nguyên nhân của rất nhiều ca sảy thai mà y học hiện đại vẫn chưa giải thích được. Đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu về hiện tượng này nên điều trị vẫn được coi là thử nghiệm. Giải pháp tình thế là điều trị bằng aspirin, heparin (chất làm loãng máu) và một số loại steroid.

Nguyên nhân sảy thai do rối loạn miễn dịch còn phải kể đến các bệnh lý không được điều trị như các vấn đề tuyến giáp (cả suy giáp lẫn cường giáp) và bệnh đái tháo đường....Các căn bệnh này thường tạo ra môi trường tử cung “không thuận lợi”, làm cho phôi khó có thể tồn tại. Giải pháp, nên thay đổi cách sống, đồng thời tiến hành điều trị bệnh để giúp cơ thể ổn định, như kiểm soát đường huyết, tuyến giáp để giúp mang thai được dễ dàng.

Do Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS)

Đây là một nguyên nhân gây ra sẩy thai liên tiếp. Phụ nữ bị PCOS thường có mức testosterone nam giới quá cao, gây rụng trứng và kinh nguyệt bất thường. Ngay cả ở nhóm không bị đái tháo đường, PCOS cũng gây ra hiện tượng kháng insulin, ngăn ngừa lớp lót nội mạc tử cung phát triển đúng cách. Theo thống kê, có từ 5 đến 10% phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ mắc Hội chứng buồng trứng đa nang.

Giải pháp:

Điều trị bằng các loại thuốc chống rối loạn đường uống, như metformin (Glucophage), các loại thuốc này đã chứng minh thành công trong việc giảm sảy thai ở nhóm phụ nữ bị PCOS.

Nhiễm trùng do vi khuẩn

Nhiều vi sinh vật sống vô hại, thậm chí còn hữu ích ngay trong các bộ phận sinh sản của nam giới lẫn phụ nữ. Nhưng lại có một số dòng vi khuẩn cực kỳ nguy hiểnm, thủ phạm làm tăng nguy cơ sảy thai. Trong số này có khuẩn Mycoplasma hominis và Ureaplasma urealyticum, làm tổ trong vùng sinh dục của cả người đàn ông lẫn đàn bà khỏe mạnh. Riêng ở phụ nữ, nhiễm khuẩn có thể làm tăng nguy cơ viêm nội mạc tử cung (màng tử cung), khiến phôi không thể phát triển được. Nhiễm trùng do vi khuẩn đôi khi không có triệu chứng, nên cách duy nhất là đi khám và làm các xét nghiệm cần thiết. May mắn thay, những loại bệnh này có thể điều trị khỏi bằng kháng sinh.

Do lối sống

Rất nhiều chất độc đi vào cơ thể do lối sống thiếu khoa học. Ví dụ nicotine đi qua nhau thai, can thiệp vào việc cung cấp máu và phát triển của bào thai. Phụ nữ hút thuốc có tỉ lệ sảy thai cao gấp đôi so với phụ nữ không hút thuốc. Uống nhiều hơn hai bữa rượu bia hay đồ uống có cồn mỗi ngày cũng làm gia tăng sảy thai. Sử dụng các loại thuốc chữa bệnh, thuốc giải trí khi đang mang thai cũng không có lợi cho thai nhi. Ngoài ra, phụ nữ làm việc trong một số môi trường nhất định như tại các trang trại, phòng mổ, phòng nha khoa và phòng thí nghiệm bệnh viện, đi ca kíp trong các nhà máy hóa chất... cũng có tỉ lệ sảy thai cao vì những lý do không rõ ràng mà người ta nghi rằng do nhiễm độc gây ra.

Giải pháp:

Hãy từ bỏ những thói quen có hại trước khi mang thai để giúp tăng tỉ lệ thụ thai. Nếu lo lắng phải làm việc ở nơi độc hại, hãy nói cho bác sĩ biết để có cách phòng tránh. Trong và trong khi mang thai nên áp dụng lối sống khoa học, lành mạnh, tránh xa chất kích thích, môi trường độc hại, ăn uống cân bằng, trọng tâm tới thực phẩm, đồ uống sạch.

DS. TRANG NHUNG

(Theo PC- 5/2018)

Tránh sốt xuất huyết khi mang bầu: Cách gì?

Khi mang bầu, người phụ nữ sẽ có sức đề kháng giảm xuống cho nên dễ mắc một số bệnh, nhất là bệnh nhiễm trùng như cúm, Rubella, đặc biệt là bệnh sốt xuất huyết. Các bệnh truyền nhiễm này đều có thể làm ảnh hưởng đến thai nhi, nguy hiểm nhất là có thể gây sẩy thai và tử vong mẹ.

Tác hại của bệnh sốt xuất huyết với bà bầu

Sốt xuất huyết do virus Dengue gây ra nên được gọi là sốt xuất huyết Dengue (SXHD) để tránh nhầm lẫn với một số sốt xuất huyết khác. Đặc điểm của SXHD ở giai đoạn đầu thường có sốt, kèm theo các triệu chứng viêm hô hấp trên như đau họng, viêm long, xuất tiết, đau đầu, đau mỏi cơ xương khớp gần giống như một số bệnh khác cho nên rất dễ bỏ qua hoặc tự mua thuốc để điều trị rất nguy hiểm. Sau giai đoạn này, nếu bà bầu bị mắc bệnh SXHD thì rất đáng lo ngại vì virus Dengue sẽ tác động vào cơ quan tạo máu của người mẹ và con (thai nhi) gây rối loạn đông máu, điển hình nhất là làm giảm số lượng tiểu cầu. Khi lượng tiểu cầu giảm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiện tượng đông máu, tức là làm cho chảy máu kéo dài rất nguy hiểm đến tính mạng của mẹ và thai nhi, đặc biệt trong loại bệnh SXHD xuất hiện tiền sốc hoặc sốc. SXHD ở người mẹ mang thai có thể gây suy thai hoặc đẻ non, thai chết lưu. Với người mẹ thì rất có thể bị chảy máu khó cầm, tiền sản giật, làm tổn thương đến chức năng gan, thận, chảy máu kéo dài khi chuyển dạ, do đó rất dễ gây tử vong cho mẹ. Ngoài ra, SXHD ở bà bầu còn có thể gây ra hiện tượng rau bong non, phù phổi cấp cũng nguy hiểm đến tính mạng cho cả mẹ và con.

Hình ảnh bong rau non ở bà mẹ mang thai bị sốt xuất huyết.

Bệnh SXHD cho đến nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để điều trị, đó là một khó khăn lớn cho người thầy thuốc cũng như người bệnh, đặc biệt là phụ nữ đang mang thai có nhiều nguy cơ xấu tiềm ẩn cho mẹ và con.

Khi bà bầu nghi mắc bệnh SXHD nên làm gì?

Trước hết cần bình tĩnh không nên lo lắng quá mức làm ảnh hưởng đến thai nhi nhưng cũng không được chủ quan. Vì vậy cần đi khám bệnh, tốt nhất là khám ở chuyên khoa sản phụ hoặc chuyên khoa truyền nhiễm để được xác định mức độ của bệnh,có chỉ định điều trị và lời khuyên thỏa đáng.

Tuyệt đối không được tự động mua thuốc để uống hoặc tiêm, nếu làm như vậy bệnh không những không khỏi mà có thể nặng thêm, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng của thai nhi và cả người mẹ. Nếu bác sĩ khám bệnh cho về điều trị và theo dõi tại gia đình (tức là bệnh thuộc loại nhẹ) thì nên nghỉ ngơi, tránh làm việc quá sức.

Cần uống nhiều nước hơn bình thường để bù lượng nước và chất điện giải bị thất thoát do sốt. Tốt nhất là uống nước oresol, nếu chưa có oresol thì có thể tạm thời uống nước gạo rang hoặc tự pha 2 thìa cà phê đường mía với 8 thìa cà phê muối ăn trong 1 lít nước, uống theo nhu cầu. Nên uống thêm các loại nước ép hoa quả tươi như chanh, cam, xoài, dưa hấu, đu đủ…

Nếu sốt chưa vượt quá 38 độ thì nên lau người, đắp khăn mát, nhất là vùng trán, nách, bẹn, hai bên thái dương. Nếu có chỉ định của bác sĩ cho dùng thuốc hạ nhiệt khi cần thiết thì tuyệt đối tuân thủ không tự động đổi thuốc, nhất là không được dùng thuốc aspirin hoặc sản phẩm có aspirin vì chúng sẽ làm tăng nguy cơ xuất huyết và khi có xuất huyết sẽ khó cầm.

Điều quan trọng là luôn luôn tự theo dõi bệnh của mình hoặc có người nhà theo dõi giúp thì khi thấy bất thường cần đến bệnh viện ngay không được chần chừ.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Hiện nay, SXHD đang có xu hướng gia tăng lan rộng và mọi đối tượng đều có thể mắc bệnh này bởi vì SXHD ở nước ta lần này có 4 týp huyết thanh. Việc phòng chống SXHD không thể đơn lẻ mà phải toàn thể cộng đồng tham gia tích cực mới có hy vọng ngăn chặn.

Ở những vùng, địa phương đang có dịch xảy ra người bệnh cũng như người lành đều phải nằm màn khi ngủ để tránh muỗi đốt cả ban ngày lẫn ban đêm. Tích cực diệt muỗi và lăng quăng bằng mọi biện pháp từ dân gian đến hóa chất. Những người đang mang thai cần hết sức tránh mắc bệnh SXHD, để làm được điều đó nên mặc quần áo dài, chân đi tất, ngủ màn tuyệt đối để tránh muỗi đốt.

Hằng ngày nên dùng hương muỗi trong phòng ngủ và xung quanh nhà để xua đuổi và diệt muỗi. Các loại đựng nước sạch dùng trong sinh hoạt nên có che đậy tránh muỗi đẻ trứng và nên thay nước hàng tuần để diệt lăng quăng. Không để nước đọng ở các nơi như lốp xe hỏng, vỏ dừa, ao tù, cống rãnh. Nên tích cực tham gia và vận động mọi người cùng tham gia phong trào vệ sinh môi trường ở nơi mình đang sinh sống.

PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Phát hiện sớm dị tật bẩm sinh của thai nhi

Phụ nữ mang thai cần đi khám định kỳ để khám phát hiện những nguy cơ và có hướng xử trí đúng.

Phụ nữ mang thai cần đi khám định kỳ để khám phát hiện những nguy cơ và có hướng xử trí đúng.

Nguyên nhân dẫn đến dị tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh

Sự biến đổi của môi trường, khí hậu đã có nhiều ảnh hưởng đến sự sinh sản của con người. Hiện nay, bên cạnh một số bệnh nhiễm khuẩn phổ biến, một số dị tật ở thai nhi và trẻ sơ sinh bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu sau: sai lệch di truyền (bất thường nhiễm sắc thể, rối loạn gen, rối loạn chuyển hóa...); Trong quá trình mang thai, bà mẹ tiếp xúc môi trường độc hại (hóa chất, không khí, đất, nước...); Mẹ bầu bị nhiễm virut; Sử dụng thuốc trong 3 tháng đầu của thai kỳ; Bà bầu mắc các bệnh nhiễm trùng trong khi mang thai: nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng sinh dục, mẹ bị tiểu đường và sử dụng insulin...

Vấn đề chẩn đoán trước sinh cho phép xác định hình thái, những bất thường về mặt cơ thể của thai nhi. Qua đó, tùy theo mức độ của từng trường hợp, các bác sĩ sẽ tiến hành khắc phục, hoặc đưa ra lời khuyên cho gia đình nên giữ hay bỏ thai cũng như cách theo dõi và chăm sóc cho bé sau sinh.

Một số phương pháp chẩn đoán trước sinh

Siêu âm độ mờ da gáy

Siêu âm độ mờ da gáy được thực hiện từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ. Để biết chính xác tuổi thai, bác sĩ siêu âm sẽ đo thai nhi từ đỉnh đầu đến dưới cùng của cột sống (gọi là chiều dài đầu - mông). Rồi sau đó sẽ đo độ dày của da gáy. Làn da sẽ xuất hiện như là một vạch có màu trắng, và chất dịch dưới da sẽ xem xét bằng màu đen giữa 2 vạch màu trắng.

Siêu âm thông thường được thực hiện qua đường bụng, nhưng đôi khi được thực hiện qua ngả âm đạo vì sẽ cung cấp cho hình ảnh tốt hơn.

Độ dày của da gáy bình thường lúc thai được 11 tuần khoảng 2mm và lúc thai được gần 14 tuần là khoảng 2,9mm. Độ mờ da gáy trên 4mm trẻ có nguy cơ bị hội chứng Down hoặc một số bệnh lý khác...

Cần lưu ý rằng hội chứng Down ở trẻ dựa trên tuổi mẹ phối hợp với đo độ mờ da gáy thai 11 tuần đến gần 14 tuần, nếu da gáy dày nhưng nhiễm sắc thể bình thường (trẻ không bị hội chứng Down), trẻ vẫn có nguy cơ cao bị dị tật tim thai.

Xét nghiệm Double test và Triple test

Xét nghiệm Double test và Triple test là bộ xét nghiệm giúp tầm soát nguy cơ bị hội chứng Down, nguy cơ dị tật ống thần kinh và thai nhi không có não bộ.

Để thực hiện xét nghiệm Double test, Triple test bác sĩ sẽ lấy mẫu máu thai phụ. Thời gian làm xét nghiệm Double test: thực hiện vào tuần thứ 11 -13 của thai kỳ. Xét nghiệm Triple test: thực hiện vào tuần thứ 14 đến tuần 22, tốt nhất vào tuần thứ 16 đến 18 tuần. Xét nghiệm này rất đơn giản, không ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé.

Nếu xét nghiệm tiến hành đúng lúc, kết hợp cả xét nghiệm máu và siêu âm, thì độ chính xác cho các hội chứng Down và dị tật ống thần kinh đạt 90 - 96%.

Xét nghiệm huyết thanh thai phụ

Bác sĩ sẽ lấy máu của thai phụ để xét nghiệm. Đây là một xét nghiệm tìm 3 chất trong máu của thai phụ gồm có AFP (alpha-fetoprotein), beta-hCG toàn phần và uE3 (estriol không liên hợp). Kết quả này được tính toán cùng với cân nặng, chiều cao của thai phụ, tuổi thai... để phát hiện những nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và dị tật ống thần kinh ở thai nhi. Thời gian làm xét nghiệm tốt nhất từ tuần thứ 15-20, để đạt kết quả chính xác là tuần 16-18 trong thai kỳ.

Phương pháp này cho phép phát hiện những bất thường về chức năng các bộ phận của cơ thể.

Phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi

Khảo sát và phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi qua nuôi cấy tế bào ối nhằm phát hiện những bất thường về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể, qua đó phát hiện sớm những bệnh liên quan đến nhiễm sắc thể như hội chứng Down, Turner...

Phương pháp phân tích nhiễm sắc thể của thai nhi cho hiệu quả cao với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, tỷ lệ thành công cao hơn, giảm tỷ lệ thai bất thường ở những thai phụ lớn tuổi, tìm ra nguyên nhân thất bại nhiều lần của thụ tinh trong ống nghiệm, sẩy thai liên tiếp, thai bị dị tật, phát hiện nhiều bệnh di truyền theo giới tính, những bệnh lý liên quan đến số lượng nhiễm sắc thể, đơn gen...

ThS. Phạm Tố Ngân

Một số bệnh phụ khoa gây vô sinh

Dưới đây là những bệnh phụ khoa được coi là nguy cơ dễ gây vô sinh cao thường hay gặp phải ở nhiều chị em...

U xơ tử cung

U xơ tử cung thường gặp nhiều ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đưa ra nguyên nhân chính xác dẫn đến u xơ tử cung nhưng các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng, ở những bệnh nhân có u xơ tử cung đều có sự tăng đột biến nồng độ estrogen. Một số yếu tố nguy cơ có thể là béo phì, di truyền, dậy thì sớm, có quan hệ tình dục sớm...

Bệnh biểu hiện là những cục u nhỏ gồm các tế bào cơ mềm và các mô có liên kết với nhau thông qua hệ thống các sợi phát triển trong thành tử cung. U xơ có thể có kích thước từ 1mm đến hơn 20cm. Mặc dù là bệnh lành tính nhưng cũng có thể gây nên những biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. U xơ tử cung sẽ làm thay đổi lớp nội mạc tử cung, gập vòi tử cung, biến dạng buồng trứng nên không thuận lợi cho việc làm tổ của trứng, khó thụ thai.

Một số bệnh phụ khoa gây vô sinhCác vị trí của u xơ trong tử cung.

Dấu hiệu dễ nhận biết nhất là khí hư nhiều, rối loạn kinh nguyệt (chu kỳ kéo dài hơn và lượng máu ra nhiều hơn bình thường), có thể kèm theo hiện tượng đau bụng. U xơ tử cung tạo nên áp lực cho bàng quang dẫn đến hiện tượng bí tiểu ở nữ giới. Nếu khối u lớn rất có thể người bệnh gặp phải tình trạng rong kinh kéo dài khiến cơ thể mệt mỏi suy nhược do mất máu quá nhiều. Cũng có những trường hợp bệnh nhân có thể tự sờ thấy khối u xơ cứng ở phần bụng dưới của mình.

Tùy vào kích thước của khối u cũng như độ tuổi và nguyện vọng người bệnh mà sử dụng các biện pháp điều trị khác nhau. Có thể điều trị nội khoa và dùng thuốc trong trường hợp khối u còn nhỏ hoặc thực hiện mổ bóc tách khối u đối với phụ nữ vẫn có nhu cầu sinh đẻ. Nếu bệnh nhân đã lớn tuổi, đã có đủ số con mong muốn mà khối u đã lớn thì có thể mổ cắt bỏ tử cung.

U nang buồng trứng

Bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi dậy thì hoặc mãn kinh với triệu chứng nhận biết rất mơ hồ. Nếu không điều trị kịp thời có thể chuyển thành ung thư buồng trứng, đe dọa nghiêm trọng đến khả năng phát triển trứng, rụng trứng, từ đó gây khó khăn trong quá trình thụ thai.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến u nang buồng trứng như dư thừa hàm lượng HCG (chorionic gonadotropin) trong cơ thể, thể vàng phát triển quá mức gây kéo dài chu kỳ kinh nguyệt. Sự phát triển kém hoàn thiện của các nang trứng hoặc tác động kích thích của LH (hormone luteinizing) lên buồng trứng cũng là nguyên nhân cho u nang xuất hiện tại buồng trứng. Sự rạn vỡ bất thường các mạch máu nang trứng cũng sẽ là nguyên nhân gây u nang buồng trứng mặc dù không có dấu hiệu báo trước.

Một số bệnh phụ khoa gây vô sinhU nang buồng trứng.

Khi mới xuất hiện thường gặp phải những dấu hiệu giống như các bệnh phụ khoa khác mà không có bất kỳ dấu hiệu rõ rệt nào, có thể là hiện tượng khí hư ra nhiều, bí đại tiểu tiện, rong kinh, đau bụng kinh…

Điều trị phụ thuộc vào tính chất của khối u (lành hay ác tính), nhưng không thể xác định được tính chất khối u thông qua các xét nghiệm hoặc thăm khám mà chỉ có thể biết được khi mang khối u đã cắt bỏ khỏi cơ thể đi giải phẫu chi tiết. Đối với những khối u lành tính thì sẽ tự biến mất sau một vài chu kỳ kinh nguyệt hoặc cũng có thể cần can thiệp phẫu thuật bóc tách hoặc cắt bỏ một phần tử cung, một vài phần phụ sao cho phụ nữ vẫn có thể đảm bảo việc sinh con và duy trì quan hệ vợ chồng.

Viêm âm đạo

Là bệnh thường gặp nhưng nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ, nguy cơ cao gây vô sinh do môi trường âm đạo thay đổi khiến tinh trùng khó tồn tại được hoặc viêm nhiễm lây lan đến buồng trứng gây viêm và cản trở quá trình thụ tinh.

Một số bệnh phụ khoa gây vô sinhTrùng roi Trichomonas vaginalis gây viêm âm đạo.

Nguyên nhân thường gặp là do nhiễm nấm men Candida, trùng roi, vi khuẩn, lậu cầu hoặc Chlamydia trachomatis.

Viêm âm đạo thường có biểu hiện âm đạo có tiết dịch bất thường: Có khí hư, có máu, có mùi khó chịu…; cơ quan sinh dục ngứa, rát, đau đỏ hoặc có các nốt hoặc các vết loét; khi đi tiểu thấy đau, buốt; đau bụng dưới hoặc đau trong khi giao hợp hoặc chảy máu bất thường ngoài chu kỳ kinh nguyệt hoặc chảy máu sau khi giao hợp.

Điều trị chủ yếu là thuốc đặt tại chỗ và có thể kết hợp với liều uống theo từng nguyên nhân. Việc điều trị cần kết hợp điều trị cho cả bạn tình/chồng của người phụ nữ (trừ trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn).

Viêm lộ tuyến cổ tử cung

Viêm lộ tuyến tử cung làm cho lượng dịch trong âm đạo nhiều hơn mức bình thường, khiến cho tinh trùng khó di chuyển lại gần trứng để thụ thai. Bệnh còn làm thay đổi độ pH trong âm đạo và có thể tiêu diệt tinh trùng khi vừa đến âm đạo. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời dẫn đến khó thụ thai và vô sinh.

U xơ tử cung sẽ làm thay đổi lớp nội mạc tử cung, gập vòi trứng, biến dạng buồng trứng nên không thuận lợi cho việc làm tổ của trứng, khó thụ thai.

Biểu hiện rõ nhất là xuất hiện khí hư, dính thành từng mảng, mùi hôi khó chịu, cảm giác đau vùng âm hộ và tăng lên khi đi lại. Khi thăm khám phụ khoa sẽ thấy phần lộ tuyến đỏ, sần sùi. Kiểm tra bằng máy nội soi cổ tử cung thì sẽ thấy lớp biểu mô lộ ra trong cổ tử cung và lan ra ngoài che phủ một phần cổ tử cung tạo ra hình ảnh tổn thương có màu đỏ và sần sùi.

Nguyên nhân chủ yếu do quan hệ tình dục mạnh gây trầy xước, nạo hút nhiều lần làm hủy hoại các lớp mô, niêm mạc bên trong cổ tử cung hoặc sử dụng thuốc tránh thai có chứa nhiều estrogen…

Có nhiều phương pháp điều trị. Thầy thuốc sẽ quyết định phương pháp điều trị căn cứ vào tình trạng bệnh, thể trạng sức khỏe cũng như độ tuổi và nhu cầu sinh đẻ của người bệnh. Thông thường, khi bị viêm lộ tuyến cổ tử cung, các bác sĩ chỉ định sử dụng thuốc chống viêm tại chỗ để trị viêm lộ tuyến và có thể kết hợp cả thuốc uống nếu thực sự cần thiết. Sau khi lộ tuyến hết viêm sẽ áp dụng các biện pháp như áp lạnh, đốt điện, lazer để diệt lộ tuyến.

Viêm buồng trứng

Nguyên nhân do vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác. Nếu không được điều trị kịp thời bệnh có thể dẫn tới ung thư buồng trứng và gây vô sinh cho nữ giới.

Biểu hiện của bệnh là khí hư ra nhiều kèm theo đau vùng hạ vị liên tục và dữ dội. Ngoài ra, còn kèm theo các biểu hiện khác như sốt cao, sưng hậu môn, đau ngực dưới, đau hạ sườn phải… Bệnh nặng hơn khi cơ thể cảm thấy mệt mỏi thường xuyên và kinh nguyệt không đều.

Nguyên nhân là do vùng kín không được vệ sinh sạch sẽ, nhiễm trùng sau phá thai không an toàn tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.

Kết hợp phương pháp nội khoa và ngoại khoa để điều trị. Nội khoa điều trị kháng viêm. Phương pháp ngoại khoa - sử dụng các kỹ thuật như đốt điện, đốt laser. Các phương pháp này sử dụng sóng cao tần và tia laser để đốt diệt các vết viêm nhiễm và tiêu diệt sự phát triển của vi khuẩn.

Để phòng ngừa các bệnh phụ khoa trên, ngay từ nhỏ các bé gái cần chú ý giữ gìn vệ sinh vùng kín. Khi trưởng thành cần có đời sống tình dục lành mạnh, an toàn. Nếu có bất kỳ dấu hiệu nào bất thường cần được khám và tư vấn kịp thời của các bác sĩ sản khoa, tránh để bệnh tiến triển âm thầm, kéo dài mà không được chữa trị gì dẫn đến vô sinh.

BS . Nguyễn Mai Hương

Vệ sinh kinh nguyệt để tránh viêm nhiễm

Trong những ngày hành kinh, lúc máu kinh thoát ra ngoài, cổ tử cung hở hơn những ngày không có kinh, tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ xâm nhập từ âm đạo vào buồng tử cung. Ngoài ra nhiều người không biết giữ vệ sinh hoặc vệ sinh không đúng cách cộng với một số quan niệm sai lầm hay “kiêng kỵ” tắm rửa khi hành kinh chính là nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục như viêm âm hộ, âm đạo, viêm cổ tử cung,... có thể gây ra nhiều biến chứng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ.

Vệ sinh đúng cách sẽ tránh được viêm nhiễm

Để vệ sinh kinh nguyệt đúng cách, cần thực hiện như sau:

Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng không nên “kiêng” hoặc ngại mà cần phải tắm rửa thường xuyên. Cần tắm ở nơi kín gió, dùng nước sạch để tắm, không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối. Không nên ngâm người trong bồn tắm, ao, hồ hoặc bơi lội.

hay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4 - 5 lần một ngày. Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước chín còn ấm thay rửa. Không nên sử dụng xà phòng tắm để vệ sinh vì nhiều người theo thói quen hoặc có suy nghĩ là xà phòng diệt khuẩn tốt nên thường vệ sinh bằng xà phòng tắm. Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vì chất kiềm trong xà phòng làm rối loạn độ cân bằng kiềm toan của âm hộ, âm đạo. Chỉ nên dùng nước rửa vệ sinh phụ nữ có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH.

Nên rửa sạch tay và cắt móng tay trước những ngày có kinh; khi rửa đưa tay từ phía trước về phía sau chứ không đưa tay từ phía sau về trước. Không đưa tay thụt rửa hay làm cho nước vệ sinh vào sâu trong âm đạo; rửa xong nên dùng khăn bông khô sạch thấm nhẹ nhàng. Nếu bạn dùng bằng vải xô thì cần ngâm xà phòng và giặt thật sạch, phơi ở nơi có nắng, ít bụi là tốt nhất.

Ngoài ra cần chú ý ăn uống điều độ, đủ chất. Tránh chạy nhảy hoặc lao động nặng trong những ngày có kinh.

Những hiểu biết cũng như ý thức giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ giúp người phụ nữ cảm thấy thoải mái hơn và phòng tránh được những viêm nhiễm đường sinh dục do thiếu vệ sinh gây ra.

Bác sĩThúy An

Kỹ thuật bóng đôi giúp hạn chế sinh mổ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2011, khảo sát trên 300.000 trường hợp sinh ở 373 cơ sở chăm sóc sức khỏe ở 24 quốc gia tỉ lệ khởi phát chuyển dạ (KPCD) là 9,6% .

Các phương pháp dùng thuốc gồm có: Prostagladin E2 (PGE2) và Prostagladin E1 (PGE1). Prostagladin E2 được coi là tác nhân hiệu quả với hiệu quả khởi phát chuyển dạ thành công 83% - 96%. Tuy nhiên, Prostagladin E2 chi phí cao, khó bảo quản vì nhạy cảm với nhiệt độ cao.

Các phương pháp cơ học: que bấc nong cổ tử cung (CTC), đặt túi nước ngoài buồng ối, đặt thông Foley qua lỗ trong cổ tử cung hay kênh cổ tử cung bằng bóng đơn hoặc bóng đôi. Phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng thông Foley được thực hiện từ năm 1967 bởi Embrey và Mollison. Từ đó đến nay đã có nhiều nghiên cứu khẳng định tính an toàn và hiệu quả của phương pháp này. Theo WHO 2011, kết hợp đặt thông Foley cổ tử cung với truyền Oxytocin là phương thức khởi phát chuyển dạ thay thế trong trường hợp có chống chỉ định với Prostagladin hoặc ở các cơ sở y tế không có sẵn Prostagladin.

Kỹ thuật bóng đôi giúp hạn chế sinh mổ

Từ 1991, Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) đã nghiên cứu khởi phát chuyển dạ bằng thông bóng đôi so sánh với Prostagladin E2 trên các trường hợp cổ tử cung không thuận lợi. Kết quả gợi ý thông bóng đôi là một phương pháp khởi phát chuyển dạ được thai phụ chấp nhận và hiệu quả trong việc gây chín muồi cổ tử cung ở những trường hợp cổ tử cung không thuận lợi.

Từ 1991 đến hiện nay có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của thông bóng đôi so với các phương pháp khởi phát chuyển dạ khác cho thấy đây là một phương thức an toàn, hiệu quả, ít gây cơn gò cường tính như prostagladin E2. Do đó có thể áp dụng được trên các trường hợp cổ tử cung không thuận lợi và các trường hợp khởi phát chuyển dạ trên thai phụ có vết mổ sinh cũ. Tuy nhiên, ở Việt Nam việc áp dụng thông bóng đôi vào khởi phát chuyển dạ chưa thực hiện vì giá thành cao.

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam. Việc tìm ra phương cách để lồng hai thông Foley với kích cỡ thích hợp tạo bóng đôi có khả năng đặt đúng vùng cổ và kênh cổ tử cung, cùng với đầu của thông Foley vẫn hoạt động hiệu quả theo dõi được hiện tượng ra nước ối hay chảy máu là một điểm quan trọng của công trình này.

Công trình thực hiện trong thời điểm các phương cách khởi phát chuyển dạ đang thực hiện trên toàn quốc bị giới hạn bởi khả năng làm thay đổi thuận lợi hơn của cổ tử cung. Một điều kiện quan trọng để khởi phát chuyển dạ thành công. Phương cách này trước tiên giúp Bệnh viện Hùng Vương, với hơn 40.000 trường hợp sinh mỗi năm (hơn 100 trường hợp sinh hàng ngày), thực hiện tốt hơn việc khởi phát chuyển dạ khi có chỉ định.

Trước khó khăn này, khoa Sản Bệnh viện Hùng Vương đã có sáng kiến cải tiến tạo ra thông Foley bóng đôi bằng cách kết hợp hai thông Foley 20 French và 30 French (Fr). Bằng các dụng cụ đơn giản, sẵn có ở tất cả mọi cơ sở y tế, có thể thực hiện khởi phát chuyển dạ bằng Foley bóng đôi tại kênh cổ tử cung với quy trình đảm bảo vô trùng, kỹ thuật đặt thông đơn giản, mức độ khó chịu trên thai phụ ít, giá thành rẻ, hiệu quả cao

Năm 1997, Jack Atad MD và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 250 thai phụ có điểm số Bishop ≤ 4 điểm khởi phát chuyển dạ bằng thông bóng đôi (bóng Atad Ripener Device). Chỉ định KPCD gồm tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật (118 trường hợp); thai quá ngày (69 trường hợp); KPCD chọn lọc (23 trường hợp); các nguyên nhân khác như thử nghiệm không đả kích không đáp ứng, thai chậm tăng trưởng, vết mổ sinh cũ và đái tháo đường thai kỳ (40 trường hợp). Điểm số Bishop tăng 4,6 (từ 2,0 trước khi KPCD đến 6,6 sau khi rút ống thông, p < 0,05) và tỉ lệ sinh mổ là 16% [J. Atad and et al (1997).

Theo nghiên cứu của Atonella Cromi và cộng sự được công bố trên tạp chí AJOG năm 2012 so sánh hiệu quả KPCD của thông bóng đôi với PGE2 trên 210 thai phụ có chỉ số Bishop ≤ 6. Tỉ lệ sinh ngả âm đạo trong 24 giờ ở nhóm thông bóng đôi cao hơn nhóm PGE2 (68,6% so với 49,5%; OR 2,22; KTC 95 % [1,26 - 3,91]). Không có sự khác biệt trong tỉ lệ sinh mổ giữa 2 nhóm (23,8% so với 26,2%; OR 0,88; KTC 95% [0,47 - 1,65]).

Kỹ thuật bóng đôi giúp hạn chế sinh mổ

Nhóm đặt thông bóng đôi thường cần phối hợp thêm giục sinh bằng Oxytocin và gây tê ngoài màng cứng. Rối loạn cơn gò như cơn gò cường tính hay cơn gò tăng trương lực thường gặp ở nhóm PGE2 hơn nhóm đặt thông bóng đôi (9,7% so với 0%, p<0,01). Kết luận của nghiên cứu: việc sử dụng thông bóng đôi có với tỉ lệ sinh ngả âm đạo trong 24 giờ cao hơn so với PGE2 [A. Cromi and et al (2012).

Qua nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đơn có nhóm chứng so sánh hiệu quả khởi phát chuyển dạ của phương pháp thông Foley bóng đôi cải tiến và thông Foley bóng đơn đặt kênh cổ tử cung trên 250 thai phụ mang thai trưởng thành tại Bệnh viện Hùng Vương từ 1/10/2014 đến 10/5/2015, thu được các kết luận như sau:

Tỉ lệ KPCD thành công ở nhóm KPCD bằng phương pháp thông Foley bóng đôi cải tiến so với thông Foley bóng đơn lần lượt là 86,4% và 61,6%, RR = 1,4; KTC 95% [1,2 - 1,6], p < 0,001.

Điểm số Bishop trung bình sau KPCD là 7,8 ± 1,4 và 6,5 ± 1,7, p < 0,05. Thay đổi điểm Bishop sau KPCD là 5,9 ± 1,6 và 4,3 ± 1,8, p < 0,001.

Thời gian trung bình ở phương pháp KPCD thông bóng đôi cải tiến và bóng đơn từ lúc KPCD đến khi chỉ số Bishop ≥ 7 điểm là 10,8 ± 2,3 giờ và 10,8 ± 2,1 giờ, p > 0,05.

Hiện nay các ứng dụng của bóng đôi Foley cải tiến còn đang được tiếp tục nghiên cứu trong các lĩnh vực : giúp hỗ trợ chèn cầm máu trong băng huyết sau sinh, trong hỗ trợ điều trị thai bám vị trí bất thường ở vết mổ sinh cũ.

Công trình của các bác sĩ BV. Hùng Vương (TP.HCM) nghiên cứu đã được các hội nghề nghiệp đánh giá cao về hiệu quả, tính an toàn, tính ứng dụng và tính kinh tế. Công trình cũng nhận được giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, được Bộ Y tế công nhận là phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh và nhận giải thưởng Kova ở hạng mục Kiến tạo.

PGS.TS. HUỲNH NGUYỄN KHÁNH TRANG